Theo khoản 1 Điều 39 Luật Việc làm 2025, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng được tính bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng gần nhất trước khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc.
Tuy nhiên, khoản trợ cấp này có mức giới hạn tối đa, không vượt quá 5 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng do Chính phủ công bố, áp dụng tại tháng cuối cùng người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Đáng chú ý, theo Nghị định 399/2026/NĐ-CP, từ ngày 1/1/2027, mức lương tối thiểu tháng tại 4 vùng sẽ được điều chỉnh như sau:
Vùng I: 5,7 triệu đồng/tháng.
Vùng II: 5,08 triệu đồng/tháng.
Vùng III: 4,45 triệu đồng/tháng.
Vùng IV: 4,04 triệu đồng/tháng.
Căn cứ mức lương tối thiểu mới, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa hằng tháng tại từng vùng cũng được xác định tương ứng:
Như vậy, từ đầu năm 2027, mức trợ cấp thất nghiệp cao nhất có thể đạt 28,5 triệu đồng/tháng, áp dụng đối với người lao động có tháng cuối cùng đóng bảo hiểm thất nghiệp thuộc vùng I.
Tuy nhiên, không phải tất cả người lao động thuộc vùng I đều được nhận mức tiền này. Để đạt mức trợ cấp tối đa 28,5 triệu đồng/tháng, người lao động phải có mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng gần nhất từ 47,5 triệu đồng trở lên. Bởi theo công thức tính, 60% của 47,5 triệu đồng tương đương 28,5 triệu đồng.
Nếu mức bình quân tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp thấp hơn con số này, trợ cấp thực tế sẽ được tính theo tỷ lệ 60%, thay vì tự động nhận mức trần.
So với mức tối đa 26,55 triệu đồng/tháng áp dụng tại vùng I trước ngày 1/1/2027 theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP, mức trần mới tăng thêm 1,95 triệu đồng/tháng.
Người lao động cũng cần lưu ý, mức lương tối thiểu vùng được dùng để xác định mức trần trợ cấp thất nghiệp là mức áp dụng tại tháng cuối cùng đóng bảo hiểm thất nghiệp, không phải mức lương tại thời điểm nộp hồ sơ hưởng trợ cấp. Do đó, thời điểm kết thúc đóng bảo hiểm thất nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức trần được áp dụng.